Tuesday, October 16. 2007
Commence un jour extraordinaire par une bonne douce pour me rafraîchir et recueillir de nouvelles choses.
Thursday, October 4. 2007
偶成
|
Ngẫu thành
|
Ngẫu hứng làm |
|
少年易老學難成,
一寸光陰不可輕;
未覺池塘春草夢,
階前梧葉已秋聲。
|
Thiếu niên dị lão học nan thành,
Nhất thốn quang âm bất khả khinh.
Vị giác trì đường xuân thảo mộng,
Giai tiền ngô diệp dĩ thu thanh.
|
Tuổi già dễ đến, học nan thành,
Một tấc quang âm chẳng dám khinh.
Giấc mộng ngày xuân chưa kịp tỉnh,
Lá ngô trước mắt chẳng còn xanh.
|
Thiếu niên dễ thành già, học khó thành, Một tấc quang âm cũng không thể coi nhẹ. Chưa kịp tỉnh giấc mộng ngày xuân, (giấc mộng xuân chỉ tuổi thanh xuân của con người) Lá ngô đồng trước thềm đã vọng đầy tiếng thu. (mùa thu tượng trưng cho tuổi già tới) Một bài thơ vịnh cảnh thu hôm nay đọc trong giờ triển lãm thư pháp ở trường. Buổi thư pháp đầu tiên của năm học mới, xí xớn cầm bút giấy đến thì bị dẫn lên phòng triển lãm soi.
Saturday, September 29. 2007
Trung Hoa cổ đại có 4 ngôi lầu danh tiếng(1) thì 3 trong số đó nằm trên đất Giang Nam(2), gọi chung là Giang Nam tam đại danh lâu(3). Nổi tiếng nhất trong số đó có lẽ là Hoàng Hạc lâu, do Tôn Quyền dựng năm Hoàng Võ thứ 2 đời Đông Ngô (Tam Quốc, 223) để làm đài canh, nay thuộc Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc. Thứ đến là Đằng Vương các, do con trai của Đường Cao Tổ là Lý Nguyên Anh dựng năm Vĩnh Huy thứ 3 đời Sơ Đường (625) khi làm thứ sử Tô Châu, nay thuộc Nam Xương, tỉnh Giang Tây. Ngôi lầu còn lại ít được nhắc đến hơn là Nhạc Dương lâu, do đại tướng Đông Ngô là Lỗ Túc dựng năm Kiến An thứ 2 đời Đông Hán (215) khi đóng quân ở Ba Khâu để làm chỗ thao duyệt thuỷ quân (khi đó Lưu Bị và Tôn Quyền đang tranh giành Kinh Châu), nay thuộc Nhạc Dương, tỉnh Hồ Bắc. Nhắc đến Hoàng Hạc lâu thì người ta nghĩ ngay tới "Yên ba giang thượng sử nhân sầu" của Thôi Hiệu, tới Đằng Vương các thì cũng có Đằng Vương các tự(4) trứ danh của Vương Bột, với "Lạc hà dữ cô vụ tề phi, thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc" (Ráng chiều rơi xuống cùng với cánh cò đơn cùng bay, nước thu với dải trời kéo dài liền một màu). Còn Nhạc Dương lâu thì lại gắn liền với Nhạc Dương lâu ký của Phạm Trọng Yêm(5), trong đó có câu "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc" (Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ). Phạm Trọng Yêm là tể tướng đời Bắc Tống, cuộc đời có cái gì đó dễ liên tưởng tới Nhạc Phi(6), tuy số phận không bi thảm như vậy. Một đời khảng khái, khí tiết, đóng quân chặn giặc ngoài miền viễn biên, đâu biết thân mình đang bị những kẻ trong triều gièm pha.
岳陽樓記 范仲淹 慶曆四年春,滕子京謫守巴陵郡。越明年,政通人和,百廢具興,乃重修岳陽樓,增其舊制,刻唐賢今人詩賦於其上;屬予作文以記之。
予觀夫巴陵勝狀,在洞庭一湖。銜遠山,吞長江,浩浩湯湯,橫無際涯;朝暉夕陰,氣象萬千;此則岳陽樓之大觀也,前人之述備矣。然則北通巫峽,南極瀟湘,遷客騷人,多會於此,覽物之情,得無異乎?
若夫霪雨霏霏,連月不開;陰風怒號,濁浪排空;日星隱耀,山岳潛形;商旅不行,檣傾楫摧;薄暮冥冥,虎嘯猿啼;登斯樓也,則有去國懷鄉,憂讒畏譏,滿目蕭然,感極而悲者矣!
至若春和景明,波瀾不驚,上下天光,一碧萬頃;沙鷗翔集,錦鱗游泳,岸芷汀蘭,郁郁青青。而或長煙一空,皓月千里,浮光躍金,靜影沈璧,漁歌互答,此樂何極!登斯樓也,則有心曠神怡,寵辱偕忘、把酒臨風,其喜洋洋者矣!
嗟夫!予嘗求古仁人之心,或異二者之為,何哉?不以物喜,不以己悲,居廟堂之高,則憂其民;處江湖之遠,則憂其君。是進亦憂,退亦憂;然則何時而樂耶?其必曰:「先天下之憂而憂,後天下之樂而樂歟!」噫!微斯人,吾誰與歸!時六年九月十五日。
Nhạc Dương lâu ký Phạm Trọng Yêm
Khánh Lịch tứ niên xuân, Đằng Tử Kinh trích thủ Ba Lăng quận. Việt minh niên, chính thông nhân hoà, bách phế cụ hưng, nãi trùng tu Nhạc Dương lâu, tăng kỳ cựu chế, khắc Đường hiền kim nhân thi phú ư kỳ thượng; thuộc dư tác văn dĩ ký chi.
Dư quan phù Ba Lăng thắng trạng, tại Động Đình nhất hồ. Hàm viễn sơn, thôn Trường Giang, hạo hạo thang thang, hoành vô tế nhai; triêu huy tịch âm, khí tượng vạn thiên; thử tắc Nhạc Dương lâu chi đại quan dã, tiền nhân chi thuật bị hĩ. Nhiên tắc bắc thông Vu Giáp, nam cực Tiêu Tương, thiên khách tao nhân, đa hội ư thử, lãm vật chi tình, đắc vô dị hồ?
Nhược phù dâm vũ phi phi, liên nguyệt bất khai; âm phong nộ hiệu, trọc lãng bài không; nhật tinh ẩn diệu, sơn nhạc tiềm hình; thương lữ bất hành, tường khuynh tiếp toả; bạc mộ minh minh, hổ khiếu viên đề; đăng tư lâu dã, tắc hữu khứ quốc hoài hương, ưu sàm uý cơ, mãn mục tiêu nhiên, cảm cực nhi bi giả hĩ!
Chí nhược xuân hoà cảnh minh, ba lan bất kinh, thượng hạ thiên quang, nhất bích vạn khoảnh; sa âu tường tập, cẩm lân du vịnh, ngạn chỉ đinh lan, uất uất thanh thanh. Nhi hoặc trường yên nhất không, hạo nguyệt thiên lý, phù quang dược kim, tĩnh ảnh trầm bích, ngư ca hỗ đáp, thử lạc hà cực! Đăng tư lâu dã, tắc hữu tâm khoáng thần di, sủng nhục giai vong, bả tửu lâm phong, kỳ hỉ dương dương giả hĩ!
Ta phù! Dư thường cầu cổ nhân nhân chi tâm, hoặc dị nhị giả chi vi, hà tai? Bất dĩ vật hỉ, bất dĩ kỷ bi, cư miếu đường chi cao, tắc ưu kỳ dân; xứ giang hồ chi viễn, tắc ưu kỳ quân. Thị tiến diệc ưu, thoái diệc ưu; nhiên tắc hà thì nhi lạc gia? Kỳ tất viết: "tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc dư"! Y! Vi tư nhân, ngô thuỳ dữ quy! Thì lục niên cửu nguyệt thập ngũ nhật.
Ký lầu Nhạc Dương Phạm Trọng Yêm
Mùa xuân năm Khánh Lịch thứ tư, Đằng Tử Kinh(7) bị biếm đi giữ quận Ba Lăng. Qua năm sau, chính sự thông suốt, dân tình hoà hảo, mọi vật hoang phế, bèn trùng tu Nhạc Dương lâu, gia bổ vào công trình cũ, trạm khắc thơ phú hiền nhân đời Đường và đương thời lên đó; vì thế tôi làm bài ký này.
Tôi xem cảnh vật Ba Lăng, có một hồ Động Đình. Ngậm núi xa, nuốt Trường Giang, to lớn hùng vĩ, rộng không bờ bến; sáng trong chiều tối, muôn vàn khí tượng; những thứ đó làm nên quang cảnh Nhạc Dương lâu, tiền nhân đã đặt ra như vậy. Cảnh trí phía bắc liền với Vu Giáp, nam chạm tới Tiêu Tương, tao nhân mặc khách, về đây rất nhiều, ngắm tình cảnh vật, còn có gì hơn?
Nếu ngày mưa dầm lã chã, suốt tháng không thôi; gió cuồng gào thét, sóng đục xô trời; sao trời thôi chiếu, núi cao mờ dạng; khách lái không đi, buồm nghiêng chèo gãy; chiều bến âm u, hổ kêu vượn hót; lên trên lầu này, tất thấy hoài hương cảm quốc, lo phạt sợ gièm, thê lương đầy mắt, đau buồn u uất làm sao!
Nếu mùa xuân tươi trời rạng, sóng lặng nước yên, đất trời quang đãng, vạn dặm một màu; chim bãi bay liệng, cá gấm bơi đùa, chỉ bờ lan bãi, sắc thắm hương thơm. Hay như một dải khói dài, trăng trải vạn dặm, sắc trong ánh vàng, ngọc chìm cảnh tĩnh, cá hát đối nhau, vui vẻ khôn cùng! Lên trên lầu này, tất thấy tinh thần nhẹ nhõm, u cảm tiêu tan, nâng rượu trước gió, vui vẻ dương dương làm sao!
Than ôi! Ta từng hỏi những cao nhân đời xưa, nếu không phải hai điều trên, thì do đâu(8)? Không vui vì cảnh, không buồn vì cảnh, ở miếu đường trên cao, tất lo cho dân; ở sông nước ngoài xa, tất lo cho vua. Dù tiến cũng lo, lui cũng lo; vậy thì vui được khi nào đây? Tất nói là: "Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ vậy"! Ôi! Con người nhỏ bé sao, ta thuở nào về! Đã sáu năm chín tháng mười lăm ngày.
___________________________ 1. Trung Quốc tứ đại danh lâu, ngoài 3 ngôi lầu ở Giang Nam kể trên thì còn có Bồng Lai các ở Bồng Lai, tỉnh Sơn Đông, dựng năm Gia Hữu thứ 6 đời Bắc Tống (1061), gắn liền với truyền thuyết Bát tiên quá hải. 2. Ghi chú là chữ Giang Nam ngày xưa dùng để chỉ cả một vùng rộng lớn của Trung Hoa nằm ở phía nam sông Trường Giang, chứ không chỉ bó hẹp trong tỉnh Giang Nam của Trung Quốc hiện nay. Xưa đây nổi tiếng là một vùng giang sơn cẩm tú, núi non kỳ vĩ, sông nước hữu tình, danh thắng không sao kể xiết, bãi Tiêu Tương, sông Trường Giang, hồ Động Đình, Thái Hồ, bến Phong Kiều, núi Vu Giáp, Hành Sơn... 3. Ngoài ra còn có thuyết Giang Nam tứ đại danh lâu, trong đó kể thêm Tạ Diễu lâu do thi nhân đời Nam Tề là Tạ Diễu 謝眺 dựng năm Kiến Võ thứ 2 (495), khi nhậm chức thái thú Tuyên Thành, nay thuộc Tuyên Thành, tỉnh An Huy. Lý Bạch có bài thơ Tuyên Châu Tạ Diễu lâu tiễn biệt Hiệu thư Thúc Vân, trong đó có câu "Trừu đao đoạn thuỷ, thuỷ cánh lưu, Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu" (Rút dao chém nước, nước càng chảy, Nâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm): http://annonymous.online.fr/Thivien/viewpoem.php?ID=28 4. http://annonymous.online.fr/Thivien/viewpoem.php?ID=1465 5. Ngoài ra còn có bài Đăng Nhạc Dương lâu của Đỗ Phủ cũng rất nổi tiếng: http://annonymous.online.fr/Thivien/viewpoem.php?ID=3571 6. Cũng là đại nguyên soái đời Nam Tống, cầm quân chống giặc Kim, sau bị gian thần là Tần Cối vu hoạ, giả lệnh vua triệu hồi hai cha con về xử trảm tại đình Phong Ba. 7. Đằng Tử Kinh: tức Đằng Tông Lượng 滕宗諒, tự Tử Kinh 子京, đồng bảng tiến sĩ và là bạn tâm giao của Phạm Trọng Yêm. 8. Còn ta thì phải hỏi bạn Trung Thu mới dịch được câu này. :p
Wednesday, September 26. 2007
Bất ưng hữu hận,
Hà sự trường hướng biệt thời viên ? Bài từ này Tô Đông Pha làm đêm trung thu năm Bính Thìn (1076, Tô Đông Pha khi đó 40 tuổi), khi nhậm chức ở Mật Châu, uống rượu thâu đêm, say nhớ em là Tử Do mà làm, là một trong những bài nổi tiếng nhất về trung thu trong thơ ca cổ TQ. Còn ta thì nay nhân trung thu năm Đinh Hợi 2007 mà post, đương 26 tuổi, bị đày ra hoang đảo chịu kiếp tu hành còn chưa dứt , nên trông phía trời tây nhớ phụ mẫu, trông sang đông nhớ huynh trưởng. Xét thấy nếu đợi đủ 1000 năm thì chắc không đủ thọ, nên post luôn bây giờ vậy . Thôi thì nhờ chung ngắm một vầng trăng mà bác Tô đã nâng chén mời bác Lý và Tử Do, ta cũng xin nâng chén gọi là đối ẩm với cổ nhân (tiếc là thời bác Lý và cả bác Tô chưa có maotai, pijiu ). Chỉ có trăng kia là trường cửu như trời đất, chiếu tận cổ kim, nhưng sao chỉ một đời câm lặng...
Kim nhân bất kiến cổ thời nguyệt, Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân. Cổ nhân, kim nhân nhược lưu thuỷ, Cộng khan minh nguyệt giai như thử. (Người nay không thấy được trăng xưa, Trăng nay đã từng chiếu người xưa. Người xưa, người nay đều như dòng nước, Cùng ngắm trăng sáng như lúc này đây.) Tư duy biện chứng của bác Lý thật là cao diệu, cái sự xưa-nay như là nước chảy mây trôi, Nhãn khan xuân sắc như lưu thuỷ, Kim nhật tàn hoa tạc nhật khai (Mắt trông thấy xuân sắc như nước chảy, bông hoa tàn của ngày hôm nay đã nở vào ngày hôm qua). Trên đời này có bao giờ kim sẽ không thành cổ (Thế sự kỷ hà kim bất cổ, câu này của Cao Chu Thần hỏi bác Lý), công danh sự nghiệp bao người rồi cũng trôi đi trong một cơn mưa buổi sớm, anh hùng bao đời rút cục trở về thành đám bụi trần mà thôi... Thế nhưng cả người xưa lẫn người nay vẫn đều đang sống đó thôi, chính là lúc này đây, cùng nâng chén rượu dưới một vầng trăng chung, há phải như Trần Bá Ngọc cô đơn giữa trời đất mà ngậm ngùi rơi lệ Tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất kiến lai giả... hay Kim Nhược Thái phải chua xót dùng bút mực ký thác cho hậu nhân. Bài diễn xướng của Đặng Lệ Quân trong Đạm đạm u tình (từ hôm tên VNT post lên blog của hắn, mình vẫn mê mẩn chưa thôi).
|
水調歌頭-中秋
|
Thuỷ điệu ca đầu - Trung thu
|
Thuỷ điệu ca đầu - Trung thu (Người dịch: Nguyễn Hiến Lê)
|
|
明月幾時有,
把酒問青天。
不知天上宮闕,
今夕是何年。
我欲乘風歸去,
又恐瓊樓玉宇,
高處不勝寒。
起舞弄清影,
何似在人間。
轉朱閣,
低綺戶,
照無眠。
不應有恨,
何事長向別時圓。
人有悲歡離合,
月有陰晴圓缺,
此事古難全。
但願人長久,
千里共嬋娟。
|
Minh nguyệt kỷ thời hữu,
Bả tửu vấn thanh thiên.(1)
Bất tri thiên thượng cung khuyết,
Kim tịch thị hà niên ?(2)
Ngã dục thừa phong quy khứ,
Hựu khủng quỳnh lâu ngọc vũ,
Cao xứ bất thắng hàn.
Khởi vũ lộng thanh ảnh,
Hà tự tại nhân gian.
Chuyển chu các,
Đê ỷ hộ,
Chiếu vô miên.
Bất ưng hữu hận,
Hà sự trường hướng biệt thời viên.
Nhân hữu bi, hoan, ly, hợp,
Nguyệt hữu âm, tình, viên, khuyết,
Thử sự cổ nan toàn.
Đán nguyện nhân trường cửu,
Thiên lý cộng thiền quyên(3).
|
Mấy lúc có trăng thanh, Cất chén hỏi trời xanh: "Cung khuyết trên chín từng, Ðêm nay là đêm nào ?" Ta muốn cưỡi gió bay lên vút, Lại sợ lầu quỳnh cửa ngọc, Trên cao kia lạnh buốt. Ðứng dậy múa giỡn bóng, Cách biệt với nhân gian!
Trăng quanh gác tía, Cúi xuống cửa son, Dòm kẻ thao thức. Chẳng nên ân hận, Sao cứ biệt ly thì trăng tròn ? Ðời người vui, buồn, ly, hợp, Trăng cũng đầy, vơi, mờ, tỏ, Xưa nay đâu có vạn toàn. Chỉ nguyện đời ta trường cửu, Bay ngàn dặm cùng với thuyền quyên.
|
________________________ 1. Ý thơ Lý Bạch trong "Bả tửu vấn nguyệt": Thanh thiên hữu nguyệt lai kỷ thì, Ngã kim đình bôi nhất vấn chi! (Trời xanh có trăng đã bao lâu rồi, Nay ta nâng chén xin hỏi một câu) 2. Người xưa nói rằng một ngàn năm ở dưới hạ giới chỉ bằng 3 ngày ở trên trời. Năm tháng ở trần gian và thượng giới bất đồng. Ngưu Tăng Nhụ trong "Chu Tần hành kỷ": Cộng đạo nhân gian trù trướng sự, Bất tri kim tịch thị hà niên. (Cùng ngao ngán với chốn nhân gian, Không biết nay trên đó là năm nào) 3. thiền quyên: tức Thường Nga (trăng), ở đây chỉ ánh trăng. Nguyễn Vọng Chi chú là thiền quyên ở đây chỉ em trai ông là Tử Do, nghe hơi không hợp lắm.
Wednesday, September 12. 2007
Tuesday, September 11. 2007
Sunday, September 2. 2007
Monday, August 20. 2007
小雨
|
Tiểu vũ
|
Mưa nhỏ |
|
小雨春山細飛微,
出岫雲深片片飛。
障日濛漫昏似曉,
隨風簫瑟密還稀。
梅含玉粒傳天信,
竹迸琅簪洩地機。
睡起爐香殘幾度,
村翁未把一犁歸。
|
Tiểu vũ xuân sơn tế phi vi,
Xuất tụ vân thâm phiến phiến phi.
Chướng nhật mông man hôn tự hiểu,
Tuỳ phong tiêu sắt mật hoàn hy.
Mai hàm ngọc lạp truyền thiên tín,
Trúc bính lang trâm tiết địa ky (cơ).
Thuỵ khởi lư hương tàn kỷ độ,
Thôn ông vị bả nhất lê quy.
|
Núi xuân lất phất hạt mưa bay,
Hang núi đùn ra lớp lớp mây.
Theo gió sắt tiêu thưa lại nhặt,
Kín trời mù mịt tối như ngày.
Lộ ra cơ đất, cài trâm trúc,
Truyền xuống tin trời, hé ngọc mai.
Tỉnh giấc lò hương tàn mấy độ,
Về thôn bỏ ruộng lão thôi cày.
|
(Tóm được từ đây: http://www.thuhoavietnam.com/forum_posts.asp?TID=223&PN=1&TPN=5)
Dịch: 18/8
Sunday, August 19. 2007
(Chẳng hiểu chàng-nàng khóc sao to thế thành ra siêu bão, 2 ngày ko ra khỏi nhà được)
Ô hay ả Chức với chàng Ngâu, Mắc mớ điều gì khóc thật lâu ? Đành đã nhớ mong khi cách biệt, Sao còn sùi sụt lúc bên nhau ? "Lòng" trời sâu thẳm còn thương cảm, "Mặt" đất cứng trơ cũng mủi sầu. Thử hỏi khắp người trong hạ giới, Tránh sao cho khỏi dạ rầu rầu ? (Đúng ra là: Có ai miệng chẳng chửi lầu bầu ?)
|